Chùa Pháp Tạng C3/8 Lê Đình Chi, Ấp 3, Xã Lê Minh Xuân, Bình Chánh, Tp.HCM
noimage Phẩm Phương Tiện - Thứ Hai
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập Hán Dịch
Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh Việt Dịch

QUYỂN THỨ NHẤT
    Đời Diêu-Tần, Ngài Tam-Tạng Pháp-Sư Cưu-Ma-La-Thập phụng chiếu dịch.
 
PHẨM "PHƯƠNG TIỆN" (31) THỨ HAI


   1. Lúc bấy giờ, đức Thế-Tôn từ chánh định an lành mà dậy, bảo ngài Xá-Lợi-Phất: "Trí-huệ của các đức Phật rất sâu vô lượng, môn trí huệ đó khó hiểu khó vào, tất cả hàng Thanh-văn cùng Tích-chi-Phật đều không biết được. Vì sao?

      Phật đã từng gần gũi trăm nghìn muôn ức, vô số các đức Phật, trọn tu vô lượng đạo pháp của các đức Phật, dõng mãnh tinh tấn, danh tốt đồn khắp, trọn nên pháp rất sâu chưa từng có, theo thời nghi mà nói pháp ý thú khó hiểu.

      Xá-Lợi-Phất! Từ ta thành Phật đến nay, các món nhân duyên, các món thí dụ, rộng nói ngôn giáo, dùng vô số phương tiện dìu dắt chúng sanh, làm cho xa lìa lòng chấp. Vì sao? Đức Như-Lai đã đầy đủ phương tiện, tri kiến và ba-la-mật.

      Xá-Lợi-Phất! Tri kiến của Như-Lai rộng lớn sâu xa, đức vô lượng vô-ngại-lực, vô-sở-úy, thiền-định, giải-thoát tam-muội, đều sâu vào không ngằn mé, trọn nên tất cả pháp chưa từng có.

      Xá-Lợi-Phất! Như-Lai hay các món phân biệt, khéo nói các pháp lời lẽ im dịu vui đẹp lòng chúng.

      Xá-Lợi-Phất! Tóm yếu mà nói đó, vô lượng vô biên pháp vị tằng hữu, đức Phật thảy đều trọn nên.
   2. Thôi Xá-Lợi-Phất! Chẳng cần nói nữa. Vì sao? Vì pháp khó hiểu ít có thứ nhất mà Phật trọn nên đó, chỉ có Phật cùng Phật mới có thể thấu tột tướng chân thật của các pháp, nghĩa là các pháp: tướng như vậy, tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, trước sau rốt ráo như vậy.

   3. Bấy giờ, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói bài kệ rằng: Đấng Thế-Hùng khó lường

      Các trời cùng người đời

      Tất cả loài chúng sanh

      Không ai hiểu được Phật

      Trí-lực, vô-sở-úy

      Giải thoát các tam-muội

      Các pháp khác của Phật

      Không ai so lường được

      Vốn từ vô số Phật

      Đầy đủ tu các đạo

      Pháp nhiệm mầu rất sâu

      Khó thấy khó rõ được

      Trong vô lượng ức kiếp

      Tu các đạo đó rồi

      Đạo tràng được chứng quả

      Ta đều đã thấy biết

      Quả báo lớn như vậy

      Các món tính tướng nghĩa

      Ta cùng mười phương Phật

      Mới biết được việc đó
   4. Pháp đó không chỉ được

      Vắng bặt tướng nói năng

      Các loài chúng sinh khác

      Không có ai hiểu được

      Trừ các chúng Bồ-Tát

      Người sức tin bền chặt

      Các hàng đệ tử Phật

      Từng cúng dường các Phật

      Tất cả lậu đã hết

      Trụ thân rốt sau này

      Các hạng người vậy thảy

      Sức họ không kham được,

      Giả sử đầy thế gian

      Đều như Xá-Lợi-Phất

      Cùng suy chung so lường

      Chẳng lường được Phật trí

      Chính sử khắp mười phương

      Đều như Xá-Lợi-Phất

      Và các đệ-tử khác

      Cũng đầy mười phương cõi

      Cùng suy chung so lường

      Cũng lại chẳng biết được.

      Bậc Duyên-giác trí lành

      Vô lậu thân rốt sau

      Cũng đầy mười phương cõi

      Số đông như rừng tre,

      Hạng này chung một lòng

      Trong vô lượng ức kiếp

      Muốn xét Phật thật trí

      Chẳng biết được chút phần.

      Bồ-Tát mới phát tâm

      Cúng dường vô số Phật

      Rõ thấu các nghĩa thú

      Lại hay khéo nói pháp

      Như lúa, mè, tre, lau

      Đông đầy mười phương cõi

      Một lòng dùng trí mầu

      Trải số kiếp hằng sa

      Thảy đều chung suy lường

      Chẳng biết được trí Phật

      Hàng bất-thối Bồ-Tát

      Số đông như hằng sa

      Một lòng chung suy cầu

      Cũng lại chẳng hiểu được.
   5. Lại bảo Xá-Lợi-Phất

      Pháp nhiệm mầu rất sâu

      Vô lậu khó nghĩ bàn

      Nay ta đã được đủ

      Chỉ ta biết tướng đó

      Mười phương Phật cũng vậy,

      Xá-Lợi-Phất phải biết

      Lời Phật nói không khác

      Với Pháp của Phật nói

      Nên sinh sức tin chắc

      Pháp của Phật lâu sau

      Cần phải nói chân thật

      Bảo các chúng Thanh-văn

      Cùng người cầu Duyên-giác

      Ta khiến cho thoát khổ

      Đến chứng được Niết-bàn

      Phật dùng sức phương tiện

      Dạy cho ba thừa giáo

      Chúng sanh nơi nơi chấp

      Dắt đó khiến ra khỏi.
   6. Khi đó trong đại chúng có hàng Thanh-văn lậu tận A-la-hán, ngài A-Nhã Kiều-Trần-Như v.v... một nghìn hai trăm người và các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận-sự-nam cùng cận-sự-nữ, hạng người phát tâm Thanh-văn, Duyên-giác đều nghĩ rằng : "Hôm nay đức Phật cớ chi lại ân cần ngợi khen phương tiện mà nói thế này : "Pháp của Phật chứng rất sâu khó hiểu, tất cả hàng Thanh-văn cùng Duyên-giác không thể đến được."

   7. Đức Phật nói một nghĩa giải thoát, chúng ta cũng chứng được pháp đó đến nơi Niết-bàn, mà nay chẳng rõ nghĩa đó về đâu? Lúc ấy, ngài Xá-Lợi-Phất biết lòng nghi của bốn chúng, chính mình cũng chưa rõ, liền bạch Phật rằng:  Thưa Thế-Tôn! Nhân gì duyên gì mà Phật ân cần khen ngợi pháp phương-tiện thứ nhất nhiệm mầu rất sâu khó hiểu của các đức Phật? Con từ trước đến nay chưa từng nghe Phật nói điều đó, hôm nay bốn chúng thảy đều có lòng nghi. Cúi xin đức Thế-Tôn bày nói việc đó. Cớ gì mà đức Thế-Tôn ân cần khen ngợi pháp nhiệm mầu rất sâu khó hiểu? Khi đó ngài Xá-Lợi-Phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
   8. Đấng Huệ-Nhật Đại-thánh

      Lâu mới nói pháp này,

      Tự nói pháp mình chứng

      Lực, vô-úy, tam-muội,

      Thiền-định, giải-thoát thảy

      Đều chẳng nghĩ bàn được.

      Pháp chứng nơi đạo tràng

      Không ai hỏi đến được,

      Ý con khó lường được

      Cũng không ai hay hỏi.

      Không hỏi mà tự nói

      Khen ngợi đạo mình làm

      Các đức Phật chứng được

      Trí huệ rất nhiệm mầu.

      Hàng vô-lậu La-hán

      Cùng người cầu Niết-bàn

      Nay đều sa lưới nghi

      Phật cớ chi nói thế?

      Hạng người cầu Duyên-giác.

      Tỳ-kheo, Tỳkheo-ni,

      Các trời, rồng, quỉ, thần

      Và Càn-thát-bà thảy

      Ngó nhau mang lòng nghi

      Nhìn trông đấng Túc-Tôn,

      Việc đó là thế nào

      Xin Phật vị dạy cho?

      Trong các chúng Thanh-văn

      Phật nói con hạng nhất

      Nay con nơi trí mình

      Nghi lầm không rõ được

      Vì là pháp rốt ráo

      Vì là đạo Phật làm

      Con từ miệng Phật sanh

      Chắp tay nhìn trông chờ

      Xin ban tiếng nhiệm mầu

      Liền vì nói như thực

      Các trời, rồng, thần thảy

      Số đông như hằng sa

      Bồ-Tát cầu thành Phật

      Số nhiều có tám muôn

      Lại những muôn ức nước

      Vua Chuyển-Luân-vương đến

      Đều lòng kính chắp tay

      Muốn nghe đạo đầy đủ.
   9. Khi đó đức Phật bảo ngài Xá-Lợi-Phất: Thôi thôi! Chẳng nên nói nữa, nếu nói việc đó tất cả trong đời các trời và người đều sẽ kinh sợ nghi-ngờ."
  10. Ngài Xá-Lợi-Phất lại bạch Phật rằng: "Thưa Thế-Tôn! Cúi xin nói đó, cúi xin nói đó. Vì sao? Trong hội đây có vô số trăm nghìn muôn ức a-tăng-kỳ chúng-sinh đã từng gặp các đức Phật, các căn mạnh lẹ, trí huệ sáng suốt, được nghe Phật dạy chắc có thể kính tin".

      Lúc ấy, ngài Xá-Lợi-Phất muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

      Đấng Pháp-Vương vô thượng

      Xin nói chuyện đừng lo

      Vô lượng chúng hội đây

      Có người hay kính tin.
  11. Đức Phật lại ngăn Xá-Lợi-Phất : "Nếu nói việc đó thì tất cả trong đời, trời, người, A-tu-la đều sẽ nghi sợ, Tỳ-kheo tăng-thượng-mạn sẽ phải sa vào hầm lớn."

      Khi đó đức Thế-Tôn lại nói kệ rằng:

      Thôi thôi! Chẳng nên nói

      Pháp ta diệu khó nghĩ

      Những kẻ tăng-thượng-mạn

      Nghe ắt không kính tin.
  12. Lúc ấy ngài Xá-Lợi-Phất bạch Phật rằng : "Thưa Thế-Tôn ! Cúi xin Phật nói , cúi xin Phật nói. Nay trong hội này hạng người sánh bằng con có trăm nghìn muôn ức. Đời đời đã từng theo Phật học hỏi, những người như thế chắc hay kính tin lâu dài an ổn nhiều điều lợi ích.

      Khi đó ngài Xá-Lợi-Phất, muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

      Đấng vô thượng Lưỡng-túc

      Xin nói pháp đệ nhất

      Con là trưởng tử Phật

      Xin thương phân biệt nói.

      Vô lượng chúng hội đây

      Hay kính tin pháp này

      Đời đời Phật đã từng

      Giáo hóa chúng như thế

      Đều một lòng chắp tay

      Muốn muốn nghe lãnh lời Phật.

      Chúng con nghìn hai trăm

      Cùng hạng cầu Phật nọ

      Nguyện Phật vì chúng này

      Cúi xin phân biệt nói

      Chúng đây nghe pháp ấy

      Thời sanh lòng vui mừng.
  13. Bấy giờ, đức Thế-Tôn bảo ngài Xá-Lợi-Phất : "Ông đã ân cần ba phen thưa thỉnh đâu được chẳng nói. Ông nay lóng nghe khéo suy nghĩ nhớ đó, ta sẽ vì ông phân biệt giải-nói."
  14. Khi đức Phật nói lời đó, trong hội có các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận-sự-nam, cận-sự-nữ, cả thẩy năm nghìn người, liền từ chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật mà lui về. Vì sao? Vì bọn người này gốc tội sâu nặng cùng tăng-thượng-mạng, chưa được mà nói đã được, chưa chứng mà đã cho chứng, có lỗi dường ấy, cho nên không ở lại. Đức Thế-Tôn yên lặng không ngăn cản.
  15. Bấy giờ, Đức Phật bảo ngài Xá-Lợi-Phất : "Trong chúng ta đây không còn cành lá, rặt có hạt chắc. Xá-Lợi-Phất! Những gã tăng-thượng-mạn như vậy lui về cũng là tốt. Ông nay nên khéo nghe, ta sẽ vì ông mà nói."

  16. Ngài Xá-Lợi-Phất bạch rằng : "Vâng thưa Thế-Tôn con nguyện ưa muốn nghe". Đức Phật bảo ngài Xá-Lợi-Phất : "Pháp mầu như thế, các đức Phật Như-Lai đến khi đúng thời mới nói, đó như hoa linh- thoại đến thời tiết mới hiện một lần. Xá-Lợi-Phất! Các ông nên tin lời của Phật nói không hề hư vọng.
  17. Xá-Lợi-Phất! Các đức Phật theo thời nghi nói pháp y -thú khó hiểu. Vì sao? Ta dùng vô số phương tiện các món nhân duyên, lời lẽ thí dụ diễn nói các pháp.

      Pháp đó không phải là suy lường phân biệt mà có thể hiểu, chỉ có các đức Phật mới biết được đó. Vì sao? Các đức Phật Thế-Tôn, chỉ do một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời.

      Xá-Lợi-Phất! Sao nói rằng các đức Phật Thế-Tôn chỉ do một sự nhân duyên lớn mà hiện ra đời? Các đức Phật Thế-Tôn vì muốn cho chúng sanh khai tri kiến Phật để được thanh tịnh mà hiện ra nơi đời; vì muốn chỉ tri kiến Phật cho chúng-sanh mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sanh tỏ ngộ tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sanh chứng vào đạo tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời.

      Xá-Lợi-Phất! Đó là các đức Phật do vì một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời".
  18. Đức Phật bảo Xá-Lợi-Phất : "Các đức Phật Như-Lai chỉ giáo hóa Bồ-Tát, những điều làm ra thường vì một việc : chỉ đem tri kiến Phật chỉ cho chúng sanh tỏ ngộ thôi"

      Xá-Lợi-Phất! Đức Như-Lai chỉ dùng một Phật thừa mà vì chúng sanh nói pháp không có các thừa hoặc hai hoặc ba khác.

      Xá-Lợi-Phất! Pháp của tất cả các đức Phật ở mười phương cũng như thế.

      Xá-Lợi-Phất! Thuở quá khứ các đức Phật dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp. Vì pháp đó đều là một Phật thừa, nên các chúng sanh đó theo chư Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng "nhứt-thiết chủng-trí."

      Xá-Lợi-Phất! Thuở vị lai, các đức Phật sẽ ra đời cũng dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, vì pháp ấy đều là một Phật thừa nên các chúng sanh đó theo Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng "nhứt-thiết chủng-trí".

      Xá-Lợi-Phất! Hiện tại nay, trong vô lượng trăm nghìn muôn ức cõi Phật ở mười phương, các đức Phật Thế-Tôn nhiều điều lợi ích an vui cho chúng sanh. Các đức Phật đó cũng dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân-duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, vì pháp đó đều là một Phật thừa, các chúng sanh ấy theo Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng "nhứt-thiết chủng-trí".

      Xá-Lợi-Phất ! Các đức Phật đó chỉ giáo hóa Bồ-Tát, vì muốn đem tri kiến Phật mà chỉ cho chúng sanh, vì muốn đem tri kiến Phật cho chúng sanh tỏ ngộ, vì muốn làm cho chúng sanh chứng vào tri kiến Phật vậy.

      Xá-Lợi-Phất ! Nay ta cũng lại như thế, rõ biết các chúng sanh có những điều ưa muốn, thân tâm mê chấp, ta tùy theo bản tánh kia dùng các món nhân duyên lời lẽ thí dụ cùng sức phương tiện mà vì đó nói pháp.

      Xá-Lợi-Phất ! Như thế đều vì để chứng được một Phật thừa "nhứt-thiết chủng-trí."
  19.  (không thấy đoạn số 19 trong kinh)
  20. Xá-Lợi-Phất! Trong cõi nước ở mười phương còn không có hai thừa hà huống có ba!

  21. Xá-Lợi-Phất! Các đức Phật hiện ra trong đời ác năm trược, nghĩa là: Kiếp trược, phiền-não- trược, chúng-sinh-trược, kiến-trược, mệnh-trược. Như thế, Xá-Lợi-Phất, lúc kiếp loạn trược chúng sinh nhơ nặng, bỏn sẻn, tham lam, ghét ganh, trọn nên các căn chẳng lành, cho nên các đức Phật dùng sức phương tiện, nơi một Phật thừa, phân biệt nói thành ba. Xá-Lợi-Phất! Nếu đệ tử ta tự cho mình là A-la-hán cùng Duyên-giác mà không nghe không biết việc của các đức Phật Như-Lai chỉ giáo hóa Bồ-Tát, người này chẳng phải là đệ tử Phật, chẳng phải A-la-hán, chẳng phải Duyên-giác.

      Lại-nữa, Xá-Lợi-Phất! Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni đó tự cho mình đã được A-la-hán, là thân rốt sau rốt ráo Niết-bàn, bèn chẳng lại chí quyết cầu đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Nên biết bọn đó là kẻ tăng-thượng-mạn. Vì sao? nếu có Tỳ-kheo thực chứng quả A-la-hán mà không tin pháp này, quyết không có lẽ ấy, trừ sau khi Phật diệt độ hiện tiền không Phật. Vì sao? Sau khi Phật diệt độ, những kinh như thế, người hay thọ trì đọc tụng hiểu nghĩa rất khó có được, nếu gặp đức Phật khác, ở trong pháp này bèn được hiểu rõ.

      Xá-Lợi-Phất! Các ông nên một lòng tin hiểu thọ trì lời Phật dạy. Lời các đức Phật Như-Lai nói không hư vọng, không có thừa nào khác, chỉ có một Phật thừa thôi.

      Khi ấy đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
  22. Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni

      Mang lòng tăng-thượng-mạng

      Cận-sự-nam ngã mạn

      Cận-sự-nữ chẳng tin,

      Hàng bốn chúng như thế

      Số kia có năm nghìn

      Chẳng tự thấy lỗi mình

      Nơi giới có thiếu sót

      Tiếc giữ tội quấy mình

      Trí nhỏ đó đã ra,

      Bọn cám tấm trong chúng

      Oai đức Phật phải đi,

      Gã đó kém phước đức

      Chẳng kham lãnh pháp này,

      Chúng nay không cành lá

      Chỉ có những hột chắc
  23. Xá-Lợi-Phất khéo nghe!

      Pháp của các Phật được

      Vô lượng sức phương tiện

      Mà vì chúng sanh nói.

      Tâm của chúng sanh nghĩ

      Các món đạo ra làm

      Bao nhiêu những tánh dục

      Nghiệp lành dữ đời trước

      Phật biết hết thế rồi

      Dùng các duyên thí dụ

      Lời lẽ sức phương tiện

      Khiến tất cả vui mừng.

      Hoặc là nói Thế kinh

      Cô khởi cùng Bổn-sự.

      Bổn-sanh, Vị-tằng-hữu

      Cũng nói những nhân duyên

      Thí dụ và Trùng tụng

      Luận nghị cộng chín kinh.

      Căn độn ưa pháp nhỏ.

      Tham chấp nơi sanh tử

      Nơi vô lượng đức Phật

      Chẳng tu đạo sâu mầu

      Bị các khổ não loạn

      Vì đó nói Niết-bàn.

      Ta bày phương tiện đó

      Khiến đều vào huệ Phật,

      Chưa từng nói các ông

      Sẽ được thành Phật đạo

      Sở dĩ chưa từng nói

      Vì giờ nói chưa đến,

      Nay chính là đến giờ

      Quyết định nói Đại-thừa.
  24. Chín bộ pháp của ta

      Thuận theo chúng sanh nói

      Vào Đại-thừa làm gốc

      Nên mới nói kinh này.

      Có Phật tử tâm tịnh

      Êm dịu cũng căn lợi,

      Nơi vô lượng các Phật

      Mà tu đạo sâu mầu,

      Vì hàng Phật tử này

      Nói kinh Đại-thừa đây.

      Ta ghi cho người đó

      Đời sau thành Phật đạo

      Bởi thâm tâm niệm Phật

      Tu trì tịnh giới vậy

      Hạng này nghe thành Phật

      Rất mừng đầy khắp mình,

      Phật biết tâm của kia.

      Nên vì nói Đại-thừa.

      Thanh-văn hoặc Bồ-Tát,

      Nghe ta nói pháp ra

      Nhẫn đến một bài kệ

      Đều thành Phật không nghi.
  25. Trong cõi Phật mười phương

      Chỉ có một thừa pháp

      Không hai cũng không ba

      Trừ Phật phương tiện nói

      Chỉ dùng danh tự giả

      Dẫn dắt các chúng sanh

      Vì nói trí huệ Phật.

      Các Phật ra nơi đời

      Chỉ một việc này thực

      Hai thứ chẳng phải chơn.

      Trọn chẳng đem tiểu thừa

      Mà tế độ chúng sanh,

      Phật tự trụ Đại-thừa

      Như pháp của mình được

      Định, huệ, lực trang nghiêm

      Dùng đây độ chúng sanh.

      Tự chứng đạo vô thượng

      Pháp bình-đẳng Đại-thừa

      Nếu dùng tiểu thừa độ

      Nhẫn đến nơi một người

      Thời ta đọa sân tham

      Việc ấy tất không được,

      Nếu người tin về Phật

      Như-Lai chẳng dối gạt

      Cũng không lòng tham ghen

      Dứt ác trong các pháp

      Nên Phật ở mười phương

      Mà riêng không chỗ sợ.

      Ta dùng tướng trang nghiêm

      Aùnh sáng soi trong đời

      Đấng vô lượng chúng trọng

      Vì nói thực tướng ấn
  26. Xá-Lợi-Phất! nên biết

      Ta vốn lập thệ nguyện

      Muốn cho tất cả chúng

      Bằng như ta không khác,

      Như ta xưa đã nguyện

      Nay đã đầy đủ rồi

      Độ tất cả chúng sanh

      Đều khiến vào Phật đạo

      Nếu ta gặp chúng sanh

      Dùng Phật đạo dạy cả

      Kẻ vô trí rối sai

      Mê lầm không nhận lời.

      Ta rõ chúng sanh đó

      Chưa từng tu cội lành

      Chấp chặt nơi ngũ dục

      Vì si ái sinh khổ,

      Bởi nhân duyên các dục.

      Sanh vào ba đường dữ

      Xoay lăn trong sáu nẻo

      Chịu đủ những khổ độc

      Thân mọn thọï bào thai

      Đời đời tăng trưởng luôn

      Người đức mỏng ít phước

      Các sự khổ bức ngặt

      Vào rừng rậm tà kiến

      Hoặc chấp có, chấp không

      Nương gá các chấp này

      Đầy đủ sáu mươi hai

      Chấp chặt pháp hư vọng

      Bền nhận không bỏ được

      Ngã mạn tự khoe cao

      Dua nịnh lòng không thực

      Trong nghìn muôn ức kiếp

      Chẳng nghe danh tự Phật

      Cũng chẳng nghe chánh pháp

      Người như thế khó độ.
  27. Cho nên Xá-Lợi-Phất!

      Ta vì bày phương tiện

      Nói các đạo dứt khổ

      Chỉ cho đó Niết-bàn

      Ta dầu nói Niết-bàn

      Cũng chẳng phải thật diệt,

      Các pháp từ bổn lai

      Tướng thường tự vắng lặng

      Phật tử hành đạo rồi

      Đời sau được thành Phật

      Ta có sức phương tiện

      Mở bày khắp ba thừa.

      Tất cả các Thế-Tôn

      Đều nói đạo nhất thừa

      Nay trong đại chúng này

      Đều nên trừ nghi lầm

      Lời Phật nói không khác

      Chỉ một, không hai thừa.
  28. Vô số kiếp đã qua

      Vô lượng Phật diệt độ

      Trăm nghìn muôn ức Phật

      Số nhiều không lường được.

      Các Thế-Tôn như thế

      Các món duyên thí dụ

      Vô số ức phương tiện

      Diễn nói các pháp tướng,

      Các đức Thế-Tôn đó

      Đều nói pháp nhất thừa

      Độ vô lượng chúng sanh

      Khiến vào nơi Phật đạo

      Lại các đại-Thánh-chúa

      Biết tất cả thế gian

      Trời người loài quần sanh

      Thâm tâm chỗ ưa muốn

      Bèn dùng phương tiện khác

      Giúp bày nghĩa đệ nhất.
  29. Nếu có loài chúng sanh

      Gặp các Phật quá khứ

      Hoặc nghe pháp bố thí

      Hoặc trì giới nhẫn nhục

      Tinh tấn, thiền, trí thảy

      Các món tu phước huệ,

      Những người như thế đó

      Đều đã thành Phật đạo

      Sau các Phật diệt độ

      Nếu người lòng lành dịu

      Các chúng sanh như thế

      Đều đã thành Phật đạo
  30. Các Phật diệt độ rồi

      Người cúng dườngxá-lợi

      Dựng muôn ức thứ tháp

      Vàng, bạc và pha-lê

      Xa-cừ cùng mã-não

      Ngọc mai khôi, lưu ly

      Thanh tịnh rộng nghiêm sức,

      Trau giồi nơi các tháp,

      Hoặc có dựng miếu đá

      Chiên-đàn và trầm-thủy

      Gỗ mật cùng gỗ khác

      Gạch ngói bùn đất thảy,

      Hoặc ở trong đồng trống

      Chứa đất thành miếu Phật

      Nhẫn đến đồng tử giỡn

      Nhóm cát thành tháp Phật,

      Những hạng người như thế

      Đều đã thành Phật đạo.
  31. Nếu như người vì Phật

      Xây dựng các hình-tượng

      Chạm trổ thành các tướng

      Đều đã thành Phật đạo.

      Hoặc dùng bảy báu làm

      Thau, đồng bạch, đồng đỏ

      Chất nhôm cùng chì kẽm

      Sắt, gỗ cùng với bùn

      Hoặc dùng keo, sơn, vải

      Nghiêm sức làm tượng Phật

      Những người như thế đó

      Đều đã thành Phật đạo

      Vẽ vời làm tượng Phật

      Trăm tướng phước trang nghiêm

      Tự làm hoặc bảo người

      Đều đã thành Phật đạo.

      Nhẫn đến đồng tử giỡn

      Hoặc cỏ cây và bút

      Hoặc lấy móng tay mình

      Mà vẽ làm tượng Phật

      Những hạng người như thế

      Lần lần chứa công-đức

      Đầy đủ tâm đại bi

      Đều đã thành Phật đạo

      Chỉ dạy các Bồ-Tát

      Độ thoát vô lượng chúng.
  32. Nếu người nơi tháp miếu

      Tượng báu và tượng vẽ

      Dùng hoa, hương, phan, lọng

      Lồng kính mà cúng dường

      Hoặc khiến người trổi nhạc

      Đánh trống, thổi sừng ốc

      Tiêu địch, cầm, không-hầu

      Tỳ-bà, chụp-chả đồng

      Các tiếng hay như thế

      Đem dùng cúng dường hết

      Hoặc người lòng vui mừng

      Ca ngâm khen đức Phật

      Nhẫn đến một tiếng nhỏ

      Đều đã thành Phật đạo
  33. Nếu người lòng tán loạn

      Nhẫn đến dùng một hoa

      Cúng dường nơi tượng vẽ

      Lần thấy các đức Phật

      Hoặc có người lễ lạy

      Hoặc lại chỉ chắp tay

      Nhẫn đến giơ một tay

      Hoặc lại hơi cúi đầu

      Dùng đây cúng dường tượng

      Lần thấy vô lượng Phật

      Tự thành đạo vô thượng

      Rộng độ chúng vô số

      Vào Vô dư Niết-bàn

      Như củi hết lửa tắt.

      Nếu người tâm tán loạn

      Bước vào trong tháp chùa

      Chỉ niệm Nam-mô Phật

      Đều đã thành Phật đạo

      Nơi các Phật quá khứ

      Tại thế, hoặc diệt độ,

      Có người nghe pháp này

      Đều đã thành Phật đạo
  34. Các Thế-Tôn vị lai

      Số nhiều không thể lường

      Các đức Như-Lai đó

      Cùng phương tiện nói pháp.

      Tất cả các Như-Lai

      Dùng vô lượng phương tiện

      Độ thoát các chúng sanh

      Vào trí vô lậu Phật,

      Nếu có người nghe pháp

      Không ai chẳng thành Phật.

      Các Phật vốn thệ nguyện

      Ta tu hành Phật đạo

      Khắp muốn cho chúng sanh

      Cũng đồng được đạo này.

      Các Phật đời vị lai

      Dầu nói trăm nghìn ức

      Vô số các pháp môn

      Kỳ thực vì nhất thừa.

      Các Phật Lưỡng-Túc-tôn

      Biết pháp thường không tánh

      Giống Phật theo duyên sanh

      Cho nên nói nhứt thừa.

      Pháp đó trụ ngôi pháp

      Tướng thế gian thường còn

      Nơi đạo tràng biết rồi

      Đức Phật phương tiện nói.

      Hiện tại mười phương Phật

      Của trời người cúng dường

      Số nhiều như hằng sa

      Hiện ra nơi thế gian

      Vì an ổn chúng sanh

      Cũng nói pháp như thế.

      Biết vắng bặt thứ nhứt

      Bởi dùng sức phương tiện

      Dầu bày các món đạo

      Kỳ thực vì Phật thừa

      Biết các hạnh chúng sanh

      Thâm tâm nó nghĩ nhớ

      Nghiệp quen từ quá khứ

      Tánh dục, sức tinh tấn

      Và các căn lợi độn

      Dùng các món nhân duyên

      Thí dụ cùng lời lẽ

      Tùy cơ phương tiện nói.
  35. Ta nay cũng như vậy

      Vì an ổn chúng sanh

      Dùng các món pháp môn

      Rao bày nơi Phật đạo

      Ta dùng sức trí huệ

      Rõ tính dục chúng sanh

      Phương tiện nói các pháp

      Đều khiến được vui mừng.

      Xá-Lợi-Phất nên biết!

      Ta dùng mắt Phật xem

      Thấy sáu đường chúng sanh

      Nghèo cùng không phước huệ

      Vào đường hiểm sanh tử

      Khổ nối luôn không dứt

      Sâu tham nơi ngũ dục

      Như trâu "mao" mến đuôi

      Do tham ái tự che

      Đui mù không thấy biết

      Chẳng cầu Phật thế lớn

      Cùng pháp dứt sự khổ

      Sâu vào các tà kiến

      Lấy khổ muốn bỏ khổ

      Phật vì chúng sanh này

      Mà sanh lòng đại bi
  36. Xưa, tu ngồi đạo tràng

      Xem cây cùng kinh hành

      Suy nghĩ việc như vầy:

      Trí huệ của ta được

      Vi diệu rất thứ nhứt

      Chúng sanh các căn chậm

      Tham vui si làm mù

      Các hạng người như thế

      Làm sao mà độ được?

      Bấy giờ các Phạm-vương

      Cùng các trời Đế-Thích

      Bốn Thiên-vương hộ đời

      Và trời Đại-Tự-Tại

      Cùng các thiên chúng khác

      Trăm nghìn ức quyến thuộc

      Chắp tay cung kính lễ

      Thỉnh ta chuyển pháp-luân.

      Ta liền tự suy nghĩ

      Nếu chỉ khen Phật thừa

      Chúng sanh chìm nơi khổ

      Không thể tin pháp đó

      Do phá pháp không tin

      Rớt trong ba đường dữ

      Ta thà không nói pháp

      Mau vào cõi Niết-bàn

      Liền nhớ Phật quá khứ

      Thực hành sức phương tiện

      Ta nay chứng được đạo

      Cũng nên nói ba thừa.
  37. Lúc ta nghĩ thế đó

      Mười phương Phật đều hiện

      Tiếng Phạm an-ủi ta

      Hay thay! đức Thích-Ca

      Bậc Đạo-Sư thứ nhứt

      Được pháp vô thượng ấy

      Tùy theo tất cả Phật

      Mà dùng sức phương tiện

      Chúng ta cũng đều được

      Pháp tối diệu thứ nhứt

      Vì các loại chúng sanh

      Phân biệt nói ba thừa.

      Trí kém ưa pháp nhỏ

      Chẳng tự tin thành Phật

      Cho nên dùng phương tiện

      Phân biệt nói các quả

      Dầu lại nói ba thừa

      Chỉ vì dạy Bồ-Tát.
  38. Xá-Lợi-Phất nên biết!

      Ta nghe các đức Phật

      Tiếng nhiệm mầu rất sạch

      Xưng:  Nam-mô chư Phật!

      Ta lại nghĩ thế này

      Ta ra đời trược ác

      Như các Phật đã nói

      Ta cũng thuận làm theo

      Suy nghĩ việc đó rồi

      Liền đến thành Ba-Nại.

      Các pháp tướng tịch diệt

      Không thể dùng lời bày

      Bèn dùng sức phương tiện

      Vì năm Tỳ-kheo nói.

      Đó gọi chuyển pháp luân

      Bèn có tiếng Niết-bàn

      Cùng với A-la-hán

      Tên pháp, tăng sai khác.

      Từ kiếp xa nhẫn lại

      Khen bày Pháp Niết-bàn

      Dứt hẳn khổ sống chết

      Ta thường nói như thế
  39. Xá-Lợi-Phất phải biết

      Ta thấy các Phật tử

      Chí quyết cầu Phật đạo

      Vô lượng nghìn muôn ức

      Đều dùng lòng cung kính

      Đồng đi đến chỗ Phật

      Từng đã theo các Phật

      Nghe nói pháp phương tiện

      Ta liền nghĩ thế này

      Sở dĩ Phật ra đời

      Để vì nói Phật huệ

      Nay chính đã đúng giờ.
  40. Xá-Lợi-Phất phải biết!

      Người căn chậm trí nhỏ

      Kẻ chấp tướng kiêu mạn

      Chẳng thể tin pháp này

      Nay ta vui vô-úy

      Ở trong hàng Bồ-Tát

      Chính bỏ ngay phương tiện

      Chỉ nói đạo vô thượng.

      Bồ-Tát nghe pháp đó

      Đều đã trừ lưới nghi

      Nghìn hai trăm La-hán

      Cũng đều sẽ thành Phật

      Như nghi thức nói pháp

      Của các Phật ba đời

      Ta nay cũng như vậy

      Nói pháp không phân biệt

      Các đức Phật ra đời

      Lâu xa khó gặp gỡ

      Chính sử hiện ra đời

      Nói pháp này khó hơn

      Vô lượng vô số kiếp

      Nghe pháp này cũng khó,

      Hay nghe được pháp này

      Người đó cũng lại khó

      Thí như hoa linh-thoại

      Tất cả đều ưa mến

      Ít có trong trời, người

      Lâu lâu một lần trổ.
  41. Người nghe pháp mừng khen

      Nhẫn đến nói một lời

      Thời là đã cúng dường

      Tất cả Phật ba đời

      Người đó rất ít có

      Hơn cả hoa Ưu-đàm.

      Các ông chớ có nghi

      Ta là vua các pháp

      Khắp bảo các đại chúng

      Chỉ dùng đạo nhứt thừa

      Dạy bảo các Bồ-Tát

      Không Thanh-văn đệ tử
  42. Xá-Lợi-Phất các ông!

Thanh-văn và Bồ-Tát

Phải biết pháp mầu này

Bí yếu của các Phật

Bởi đời ác năm trược

Chỉ tham ưa các dục

Những chúng sanh như thế

Trọn không cầu Phật đạo

Người ác đời sẽ tới

Nghe Phật nói nhứt thừa

Mê lầm không tin nhận

Phá pháp đọa đường dữ

Người tàm quí trong sạch

Quyết chí cầu Phật đạo

Nên vì bọn người ấy

Rộng khen đạo nhất thừa.

Xá-Lợi-Phất nên biết

Pháp các Phật như thế

Dùng muôn ức phương tiện

Tùy thời nghi nói pháp

Người chẳng học tập tu

Không hiểu được pháp này

Các ông đã biết rõ

Phật là thầy trong đời

Việc phương-tiện tùy nghi

Không còn lại nghi lầm

Lòng sinh rất vui mừng

Tự biết sẽ thành Phật.
 
KINH DIỆU- PHÁP LIÊN- HOA
Quyển Thứ Nhất

Một sáng chiếu phương đông, thể diệu toàn bày, chẳng phải chỗ suy lường mà suy lường được, thầm hiểu ở trong lòng, phương tiện truyền bày một đạo nhả hương trời.

NAM-MÔ PHÁP-HOA HỘI-THƯỢNG PHẬT BỔ-TÁT (3 lần)

Thế-Tôn hiện điềm tốt, Di-Lặc nghi tướng lành, Văn-Thù vì chúng rộng phô bày: Phật xưa phóng hào-quang. Ba phen mời đấng Pháp Vương vì nói hương Diệu-Liên.

NAM-MÔ QUÁ-KHỨ NHẬT-NGUYỆT ĐĂNG-MINH PHẬT (3 lần)

THÍCH NGHĨA
(1) KINH: Pháp thường, mười phương ba đời các đức Phật đều nói như vậy. Nói đủ là "Khế Kinh" nghĩa là "pháp thường khế hiệp chân lý cùng khế hiệp căn cơ chúng sanh". DIỆU-PHÁP LIÊN-HOA: Pháp mầu khó nghĩ lường, thắng hơn tất cả pháp. Kinh pháp nầy là bật nhất trong kinh pháp khác của Phật nói, dụ như hoa sen, vì hoa sen sánh với hoa khác có 5 điều đặc biệt:
Có hoa là có gương: nhân quả đồng thời.

   1. Mọc trong bùn lầy mà vẫn trong sạch thơm tho.
   2. Cọng hoa từ gốc tách riêng nhưng không chung cành với lá.
   3. Ong và bướm không bu đậu.
   4. Không bị người dùng làm trang điểm (xưa đàn bà Ấn-Độ quen dùng hoa kết thành tràng để đeo đội v.v...)

(2) Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni.

(3) Các điều vọng lầm hay làm lọt mất công đức lành.

(4) Tự mình đã được thoát khỏi khổ sinh tử luân hồi.

(5) BA CÕI: Cõi dục, cõi sắc, cõi vô-sắc.
(6) Từ quả A-na-hàm trở xuống chưa được giải thoát còn phải học tập nên gọi "HỮU-HỌC".Quả A-la-hán đã được giải thoát, về trong Tiểu-thừa-pháp, thì không còn phải học nữa nên gọi "VÔ-HỌC".
(7) Quả chứng của Phật.

(8) TỒNG TRÌ: Gồm nhiếp các Pháp.

(9) Tài biện luận ưa giảng nói pháp.

(10) Chỗ rốt ráo, trọn vẹn, nên xong hoàn toàn.

(11) Tên của vị vua 33 nước trời Đao-Lợi ở trên đỉnh núi Tu-Di.

(12) Ba thứ tiếng vang dội và 3 thứ rung động của hình sắc.

(13) (16) Các loài thần hầu hạ cõi Đao-Lợi.

(14) Thần phi-thiên: có phước như trời mà đức kém hơn trời.

(15) Chim cánh vàng (kim-sí-điểu)

(17) Thần rắn.

(18) 1) Trời; 2) Người; 3) A-tu-la; 4) Thú; 5) Quỉ; 6) Địa ngục.

(19) Phật là vua pháp (Pháp-vương). Bồ-Tát cũng như con của Phật nên là: Pháp-vương-tử.
(20) Người thọ tam quy ngũ-giới tu tại-gia gần gũi hộ thờ Tam-Bảo nên gọi cận-sự, đàn ông là Nam, đàn bà là nữ, ta quen gọi là "cư-sĩ".
(21) Vô số (một số lớn). Kiếp có: Tiểu-kiếp, trung-kiếp, đại-kiếp.Một tiểu-kiếp có 16.798.000 năm.Một trung-kiếp có 20 tiểu-kiếp.Một đại-kiếp có 4 trung-kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không.
(22) 1) Khổ-đế; 2) Tập-đế; 3) Diệt-đế; 4) Đạo-đế.
(23) 1) Vô-minh- 2) Hành- 3) Thức- 4) Danh sắc- 5) Lục nhập- 6) Xúc- 7) Thọ- 8) Aùi- 9) Thủ- 10) Hữu- 11) Sanh- 12) Lão-tử. Mười hai món này làm nhân duyên lẫn nhau.

(24) Cũng gọi là 6 độ: 1) Bố-thí-độ, 2) Trì-giới-độ, 3) Nhẫn-nhục-độ, 4) Tinh-tấn-độ, 5) Thiền-định-độ, 6) Trí-huệ- độ.
(25) Trí của Phật.
(26) 1) Đông-thắng-thần-châu. 2) Nam-thiệm-bộ-châu (quả địa-cầu), 3) Tây-ngưu-hóa-châu, 4) Bắc-câu-lô-châu.
 
(27) Thọ-ký:Trao cho lời ghi chắc về sau, bao nhiêu năm cõi nào sẽ thành Phật hiệu là v.v...

(28) Sông Hằng một con sông lớn xứ Ấn-Độ, trong sông và hai bờ có cát rất mịn, trong kinh thường dùng số cát ấy để chỉ một số đông nhiều.
(29) Ông thầy dắt dẫn.
(30) Thanh-văn thừa, Duyên-giác thừa, Phật-thừa.

(31) Phương chước hay phương pháp tiện lợi dễ dàng.
 
 
Sự tích tả

KINH PHÁP HOA

ÔNG NGHIÊM CUNG

Nước Tàu, triều nhà Trần niên hiệu Đại-Kiến năm đầu, ở xứ Dương-Châu có ông Nghiêm-Cung tả kinh Pháp-Hoa để phân phát cho người trì tụng.

Lúc đó có thần ở miếu Cung-Đình-Hồ mách mộng cho khách buôn đem hết của trong miếu đưa sang trao cho ông Cung để chi phí về việc tả kinh.

Lại một hôm ông Cung mang tiền ra phố mua giấy viết lỡ thiếu 3.000 đồng điếu, bỗng thấy từ trong chợ đi ra một người cầm 3.000 đồng điếu trao cho ông Cung mà nói: "Giúp ông mua giấy". Nói xong biến mất.

Rốt đời Tùy, giặc cướp đến Giang-Đô đều dặn nhau không nên phạm đến xóm của ông Nghiêm Pháp-Hoa (Nghiêm-Cung). Nhờ đó mà cả xóm an-lành.

Đến cuối đời Đường, nhà họ Nghiêm vẫn nối nhau tả kinh không thôi.

Vậy thì tả kinh, hay in kinh công đức lớn biết dường nào, không nói đến phước báu tốt đẹp ở nhiều đời sau, mà ngay trong hiện tại cũng không thể lường được, chẳng những là mình khỏi khổ ngay mà ngay mọi người ở gần cũng được nhờ, cả Thần Thánh cũng thường theo hộ trợ như truyện ông Nghiêm-Cung đây vậy.

CÁC TIN KHÁC

Email: trihuehp@yahoo.com.vn  chuaphaptanglmx@gmail.com

maihuuloc167@gmail.com

Chùa Pháp Tạng
Địa chỉ: C3/8 Lê Đình Chi, Ấp 3, Xã Lê Minh Xuân, Bình Chánh, Tp.HCM
Tel 1: (08) 3877 3877 Fax: 0838778989
Tel 2: 0912120412 - 0967.567.789
Tel 3: 093.93.67.789 (Quản lí web)
         ( Liên hệ đĩa gốc)

img Đang online: 42
Tổng lượt: 3,816,315